Một số quy định chung

Thảo luận trong 'AN TOÀN BẢO HỘ LAO ĐỘNG' bắt đầu bởi tuantn, 24/3/09.

  1. QUY ĐỊNH DIỄN ĐÀN
    - Đăng bài viết bắt buộc có tiền tố
    - Không đăng bài Quảng Cáo
    - Chỉ được phép đăng bài Tuyển dụng trong lĩnh vực nhân sự, hành chính và liên quan
    - 1 nick chỉ được phép đăng tối đa 2 bài tuyển dụng 1 tuần
    - Bài tuyển dụng bắt buộc phải có thời hạn, và sẽ bị xóa sau khi hết hạn 3 ngày
    ------------------------------
    Liên hệ quản trị diễn đàn: nguyenbaoanh89@gmail.com
    Dismiss Notice
  1. tuantn

    tuantn Moderator

    Tham gia ngày:
    28/2/09
    Bài viết:
    350
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nam
    Nơi ở:
    Biên Hòa
    PHẦN 1


    MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC AT-VSLĐ


    I. MỤC ĐÍCH.


    1. Vị trí của người lao động trong sản xuất:


    Quá trình sản xuất là quá trình lao động với trình độ và năng lực nhất định sử dụng công cụ, thiết bị, tác động vào đối tượng lao động để tạo ra những sản phẩm có ích cho sự tiêu dùng xã hội. Trong ba yếu tố hợp thành quá trình sản xuất ấy, yếu tố lao động có vị trí quyết định nhất. Nếu không có lao động thì sản xuất không thể diễn ra, không thể tồn tại.


    2. Những nhân tố tác động ảnh hưởng đến sức khoẻ và thân thể của người lao động:


    Lao động là yếu tố quyết định, nhưng trong quá trình lao động sản xuất thường xuyên tồn tại và phát sinh các yếu tố bất lợi có thể gây tác động đến thân thể và sức khoẻ người lao động.


    Trước hết, lao động sản xuất kể cả lao động chân tay và lao động trí óc, đều bị hao tổn về sức lực, thần kinh trí tuệ, đây là sự hao phí lao động cần thiết để sáng tạo ra sản phẩm mới. Sự hao phí lao động đó phải bù đắp để tái sản xuất sức lao động.


    Bên cạnh hao phí cần thiết đó, người lao động còn bị nhiều yếu tố có thể gây tác động vào cơ thể gây nguy hiểm và có hại như tác động bởi dòng điện, bởi nhiệt độ, bởi bụi, chất độc, chất nổ, tiếng ồn... Các yếu tố đó phát sinh và tồn tại trong quá trình sản xuất do những thiếu sót về tổ chức kỹ thuật, về tổ chức lao động hoặc do sự vô ý, cẩu thả của người lao động. Những tác động đó có thể gây ra tai nạn lao động (TNLĐ), gây nhiễm độc, bệnh nghề nghiệp, làm giảm sức khoẻ, hoặc thiệt hại tính mạng người lao động.


    3. Mục đích của an toàn lao động, vệ sinh lao động (AT-VSLĐ):


    Bảo đảm sự toàn vẹn thân thể của người lao động không bị tai nạn lao động, không bị bệnh nghề nghiệp và tác hại nghề nghiệp.


    Giảm tiêu hao sức khoẻ, nâng cao ngày công giờ công lao động và duy trì sức khoẻ lâu dài, làm việc có năng suất lao động cao.


    II. Ý NGHĨA.


    Thực hiện công tác AT-VSLĐ có ý nghĩa chính trị, xã hội và mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt như sau:


    1. Ý nghĩa về chính trị:


    Thực hiện công tác AT-VSLĐ thực hiện bản chất ưu việt của chế độ XHCN, biểu hiện tính Đảng, tính giai cấp rõ rệt. Chế độ XHCN quý trong lao động, coi người lao động là vốn quý nhất của xã hội. Chỉ có Đảng của giai cấp công nhân mới quan tâm bảo vệ, giữ gìn tính mạng sức khoẻ của người lao động, chăm lo xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân có trình độ tay nghề cao nhằm đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ chính trị to lớn là xây dựng thành công Chủ nghĩa Xã hội.


    2. Ý nghĩa xã hội:


    AT-VSLĐ vừa là yêu cầu cần thiết của sản xuất, vừa là quyền lợi, nguyện vọng chính đáng của người lao động, là biểu hiện thiết thực nhất chăm lo đến đời sống, hành phức của họ.


    AT-VSLĐ tốt đảm bảo cho xã hội trong sáng, lành mạnh, đội ngũ giai cấp công nhân có điều kiện phát triển toàn diện về trí lực thể lực. Mọi người lao động có sức khoẻ sẽ làm việc có hiệu quả cao, làm chủ bản thân. Làm chủ khoa học kỹ thuật,…TNLĐ không xảy ra, sức khoẻ được bảo đảm thì Nhà nước, Xã hội và gia đình không phải chịu những tổn thất do phải nuôi dưỡng, điều trị và do đó hạnh phúc gia đình được đảm bảo.


    3. Lợi ích về kinh tế:


    Tạo ra các điều kiện lao động tốt tức là đảm bảo cho người lao động không bị tác động bởi các yếu tố có hại trong sản xuất, giữ gìn được sức khoẻ và khả năng lao động của họ, do đó người lao động làm việc được liên tục được năng xuất cao.


    Bảo đảm thực hiện đầy đủ các biện pháp kỹ thuật an toàn lao động đúng theo quy phạm, quy trình và chỉ tiêu sẽ bảo đảm cho máy móc thiết bị nhà xưởng sử dụng được lâu dài, không bị sự cố hư hỏng, bảo vệ được tài sản cố định và do đó cũng tránh được TNLĐ đáng tiếc xảy ra. Mỗi khi TNLĐ xảy ra dù nhẹ, cũng gây thiệt hại đáng kể. Nếu TNLĐ chết người thì thiệt hài khó lòng tính hết được.
     
  2. tuantn

    tuantn Moderator

    Tham gia ngày:
    28/2/09
    Bài viết:
    350
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nam
    Nơi ở:
    Biên Hòa
    PHẦN 2


    QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG


    VÀ NLĐ TRONG VIỆC CHẤP HÀNH QUY ĐỊNH VỀ AT-VSLĐ


    Con người là vốn quí nhất, con người có thể làm ra cửa cải vật chất phục vụ cho bản thân và cho xã hội. Có công cụ lao động nhưng không có tác động của con người thì cũng không ra sản phảm. Bác hồ rất quan tâm và chú ý đến người lao động. Bác từng nói với người lao động:


    “Một công nhân bất kỳ nam hay nữ đều rất quý báu; chẳng những quý cho gia đình các cô, các chú mà còn quý cho Đảng, Chính phủ và nhân dân nữa. Nếu để xảy ra tai nạn lao động là thiệt chung cho bản thân gia đình, cho Đảng, Chính Phủ và nhân dân; người bị tai nạn không đi làm được, gia đình sẽ gặp khó khăn; sức lao động của nhân dân do vậy cũng kém sút; vì thế chúng ta phải hết sức bảo vệ an toàn lao động, bảo vệ tính mạng người công nhân” (Hồ Chủ tịch)


    Người sử dụng lao động phải luôn quan tâm và đảm bảo môi trường điều kiện lao động cho người lao động làm việc an toàn. Vì vậy, trong Bộ Luật Lao động chương IX “An toàn vệ sinh lao động” từ điều 95 đến điều 108 có 9 trong 13 điều đều nói đến trách nhiệm cần thực hiện của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động nhằm đảm bảo môi trường dản xuất kinh doanh nhưng phải đảm bảo an toàn sức khỏe nghề nghiệp cho người lao động. Quyền và nghĩa vụ đôi bên được quy định rõ tại Nghị định số 06/CP và nghị định 110/2002/NĐ-CP tại điều 13, 14, 15, 16.


    I. NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG:


    1. Nghĩa vụ:


    Theo các quy định của Nhà nước hiện hành, để đảm bảo an toàn lao động, người sử dụng lao động có nghĩa vụ (được quy định tại Điều 13 Nghị định 06/CP ngày 20/01/1995, được sửa đổi , bổ sng theo nghị định số 110/2002/ND0-CP ngày 27/12/2002):


    - Hàng năm, khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh phải lập kế hoạch, biện pháp AT-VSLĐ và cải thiện điều kiện lao động.


    - Trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và thực hiện các chế độ khác về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người lao động theo quy định của Nhà nước;


    - Cử người giám sát việc thực hiện các quy định, nội quy, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp; phối hợp với công đoàn cơ sở xây dựng và duy trì sự hoạt động của mạng lưới an toàn và vệ sinh viên;


    - Xây dựng nội quy, quy trình ATLĐ, VSLĐ phù hợp với từng loại máy, thiết bị, vật tư kể cả khi đổi mới công nghệ, máy, thiết bị, vật tư và nơi làm việc theo tiêu chuẩn quy định của Nhà nước;


    - Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy định, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người lao động;


    - Tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động theo tiêu chuẩn chế độ quy định;


    - Chấp hành nghiêm chỉnh quy định khai báo, điều tra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo kết quả tình hình thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện lao động với Sở Lao động-Thương binh và Xã hội nơi Doanh nghiệp hoạt động.


    2. Quyền:


    Quyền hạn của người sử dụng lao động được quy định tại Điều 14 Nghị định 06/CP ngày 20/01/1995, được sửa đổi , bổ sng theo nghị định số 110/2002/ND0-CP ngày 27/12/2002:


    - Buộc người lao động phải chấp hành các quy định, nội quy, biện pháp ATLĐ, VSLĐ;


    - Khen thưởng người chấp hành tốt và kỷ luật người vi phạm trong việc thực hiện ATLĐ, VSLĐ;


    - Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quyết định của Thanh tra viên lao động về ATLĐ, VSLĐ nhưng vẫn phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định đó.


    II. NGƯỜI LAO ĐỘNG:


    1. Nghĩa vụ:


    Nghĩa vụ của người lao động được quy định tại Điều 15 Nghị định 06/CP ngày 20/01/1995, được sửa đổi , bổ sng theo nghị định số 110/2002/ND0-CP ngày 27/12/2002:


    - Chấp hành các quy định, nội quy về ATLĐ, VSLĐ có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao;


    - Phải sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp, các thiết bị an toàn, vệ sinh nơi làm việc, nếu làm mất hoặc hư hỏng thì phải bồi thường;


    - Phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, gây độc hại hoặc sự cố nguy hiểm, tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả TNLĐ khi có lệnh của người sử dụng lao động.


    2. Quyền:


    Quyền của người lao động được quy định tại Điều 15 Nghị định 06/CP ngày 20/01/1995, được sửa đổi , bổ sng theo nghị định số 110/2002/ND0-CP ngày 27/12/2002:


    - Yêu cầu người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh, cải thiện điều kiện lao động; trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, huấn luyện, thực hiện biện pháp ATLĐ, VSLĐ.


    - Từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xảy ra TNLĐ, đe doạ nghiêm trọng tính mạng, sức khoẻ của mình và phải báo ngay với nguời phụ trách trực tiếp; từ chối trở lại làm việc nơi nói trên nếu những nguy cơ đó chưa được khắc phục;


    - Khiếu nại hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động vi phạm quy định của Nhà nước hoặc không thực hiện đúng các giao kết về ATLĐ, VSLĐ trong hợp đồng, thỏa ước lao động.
     
  3. tuantn

    tuantn Moderator

    Tham gia ngày:
    28/2/09
    Bài viết:
    350
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nam
    Nơi ở:
    Biên Hòa
    PHẦN 3


    THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI VÀ LÀM THÊM GIỜ


    Bộ Luật Lao động năm 1995 có chương VII gồm 10 điều từ Điều 68 đến điều 81 quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, trong đó Điều 69 quy định về việc làm thêm giờ của người lao động.


    I./ Thời giờ làm việc:


    Thời giờ làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần, nhưng phải thông báo trước cho người lao động biết.


    Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn từ một đến hai giờ đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.


    II./ Thời giờ ghỉ ngơi:


    Người lao động làm việc 8 giờ liên tục thì được nghỉ ít nhất nửa giờ, tính vào giờ làm việc.


    Người làm ca đêm được nghỉ giữa ca ít nhất 45 phút, tính vào giờ làm việc.


    Người lao động làm việc theo ca được nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyển sang ca khác.


    Mỗi tuần người lao động được nghỉ ít nhất một ngày (24 giờ liên tục).


    Người sử dụng lao động có thể sắp xếp ngày nghỉ hàng tuần vào chủ nhật hoặc vào một ngày cố định khác trong tuần.


    Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể nghỉ hàng tuần thì người sử dụng lao động phải bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân một tháng ít nhất là bốn ngày.


    Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương những ngày lễ sau đây:


    - Tết dương lịch: một ngày (ngày 1 tháng 1 dương lịch).


    - Tết âm lịch: bốn ngày (một ngày cuối năm và ba ngày đầu năm âm lịch).


    - Ngày Chiến thắng: một ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch).


    - Ngày Quốc tế lao động: một ngày (ngày 1 tháng 5 dương lịch).


    - Ngày Quốc khánh: một ngày (ngày 2 tháng 9 dương lịch).


    - Ngày giỗ tổ Hùng Vương: một ngày (ngày 10 tháng 03 âm lịch)


    Nếu những ngày nghỉ nói trên trùng vào ngày nghỉ hàng tuần thì người lao động được nghỉ bù vào ngày tiếp theo.


    Người lao động có 12 tháng làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với một người sử dụng lao động thì được nghỉ hàng năm, hưởng nguyên lương theo quy định sau đây:


    a) 12 ngày làm việc, đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;


    B) 14 ngày làm việc, đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt và đối với người dưới 18 tuổi;


    c) 16 ngày làm việc, đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt.


    Thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hàng năm do Chính phủ quy định.


    Số ngày nghỉ hàng năm được tăng thêm theo thâm niên làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với một người sử dụng lao động, cứ năm năm được nghỉ thêm một ngày.


    Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hàng năm sau khi tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở và phải thông báo trước cho mọi người trong doanh nghiệp.


    Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hàng năm thành nhiều lần. Người làm việc ở nơi xa xôi hẻo lánh, nếu có yêu cầu, được gộp số ngày nghỉ của hai năm để nghỉ một lần; nếu nghỉ gộp ba năm một lần thì phải được người sử dụng lao động đồng ý.


    Người lao động do thôi việc hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm, thì được trả lương những ngày chưa nghỉ.


    Khi nghỉ hàng năm, người lao động được ứng trước một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ. Tiền tàu xe và tiền lương của người lao động trong những ngày đi đường do hai bên thoả thuận.


    Người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hàng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc và có thể được thanh toán bằng tiền.


    III./ Thực hiện làm thêm giờ:


    Chính phủ đã ban hành Nghị định 195/CP ngày 31/12/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tại Điều 5 của Nghị định đã quy định chi tiết về thời giờ làm thêm của người lao động trong ngày không quá 50% số giờ làm việc, tổng số giờ làm thêm không quá 200 giờ.


    1./ Làm thêm đến 200 giờ trong 01 năm:


    Điều kiện để làm thâm đến 200 giờ trong một năm: xử lý sự cố sản xuất; giải quyết công việc cấp bách không thể trì hoãn; xử lý kịp thời các mặt hàng tươi sống, công trìh xây dựng và sản phẩm do yêu cầu nghiêm ngặt không thể bỏ dở được; giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ kịp thời được


    Nguyên tắc khi tổ chức làm thêm đến 200 giờ:


    - Phải thỏa thuận với từng người lao động làm thêm giờ;


    - Số giờ làm thêm trong một ngày không quá 4 giờ; riêng đối với người lao động làm các nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm không quá 3 giờ.


    - Tổng số giờ làm thêm trong một tuần không quá 16 giờ; riêng đối với người lao động làm các nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm không quá 12 giờ;


    - Tổng số giờ làm thêm trong 04 ngày không quá 14 giờ; riêng đối với các người lao động làm các nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm không quá 10 giờ.


    - Hàng Tuần người lao động được nghỉ ít nhất 01 ngày (24 giờ liên tục). Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể bố trí nghỉ hàng tuần thì phải bảo đảm hàng tháng có ít nhất 4 ngày nghỉ cho người lao động.


    - Trong trường hợp người lao động làm thêm trên 02 giờ trong ngày, thì trước khi làm thêm phải bố trí cho họ được nghỉ ít nhất 30 phút tính vào giờ làm thêm.


    - Bố trí cho người lao động được nghỉ hoặc nghỉ bù đủ các ngày lễ, tết, nghỉ hàng năm và các ngày nghỉ có hưởng lương khác đúng theo qui định của pháp luật hiện hành.


    - Thực hiện đúng các quy định tại điều 115, Điều 122, Điều 127 của Bộ Luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung về việc cấm hoặc hạn chế làm thêm giờ đối với lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động có người tàn tật.


    - Thực hiện trả lương và các chế độ khác liên quan đến làm thêm giờ đúng theo quy định của pháp luật hiện hành.


    2./ Làm thêm đến 300 giờ trong một năm:


    Các doanh nghiệp, đơn vịcó sản xuất hoặc gia công hàng xuất khẩu, bao gồm sản phẩm: dệt, may và chế biến thủy sản được tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm khi có đủ các điều kiện và thực hiện theo các nguyên tắc sau:


    - Điều kiện làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm: khi phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do yêu cầu cấp thiết của sản xuất, hoặc do tính chất thời vụ của sản xuất hoặc do yếu tố khách quan không dự liệu trước mà đã tổ chức làm thêm đến 200 giờ nhưng không thể giải quyết hết khối lượng công việc.


    - Nguyên tắc khi tổ chức làm thêm từ trên 200 đến 300 giờ trong một năm: thực hiện đầy đủ các nguyên tắc như khi tổ chức làm thêm đến 200 giờ trong một năm đã nêu trên và phải thỏa thuận với Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành Công đoàn lâm thời tại doanh nghiệp, đơn vị về phương án làm thêm giờ.


    - Đối với các doanh nghiệp, đơn vị nếu có nhu cầu làm thêm từ thêm 200 giờ đến 300 giờ trong một năm thì phải gửi văn bản xin phép tới các Bộ, ngành và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nếu được chấp thuận mới được tổ chức cho người lao động làm thêm đến 300 giờ trong năm.


    - Trường hợp phải khắc phục hậu quả do thiên tai, địch học, hỏa hoạn, dịch bệnh tràn lan trong doanh nghiệp, đơn vị thì người sử dụng lao động được phép huy động người lao động làm việc thêm quá 4 giờ trong một ngày nhưng phải được sự đồng ý của người lao động. Số giờ làm thêm này không tính vào tổng số giờ làm thêm trong năm, nhưng phải trả lương và thực hiện các chế độ khác liên quan đến làm thêm giờ đúng theo quy định của Pháp luật hiện hành.
     
  4. nvan

    nvan Member

    Tham gia ngày:
    8/6/09
    Bài viết:
    47
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    minh thay ban rất quan tâm và đầu tư cho vấn đề này nhưng dường như có nhiều phần thông tin phải cập nhật những cái mới hơn! thân


    Mong nhận được nhiều tài liệu mới hơn từ bạn.
     
Đang tải...

Chia sẻ trang này

Share