Công ty quyết định cho thôi việc có đúng luật?

Thảo luận trong 'LUẬT LAO ĐỘNG, BHXH' bắt đầu bởi builua, 10/3/10.

  1. QUY ĐỊNH DIỄN ĐÀN
    - Đăng bài viết bắt buộc có tiền tố
    - Không đăng bài Quảng Cáo
    - Chỉ được phép đăng bài Tuyển dụng trong lĩnh vực nhân sự, hành chính và liên quan
    - 1 nick chỉ được phép đăng tối đa 2 bài tuyển dụng 1 tuần
    - Bài tuyển dụng bắt buộc phải có thời hạn, và sẽ bị xóa sau khi hết hạn 3 ngày
    ------------------------------
    Liên hệ quản trị diễn đàn: nguyenbaoanh89@gmail.com
    Dismiss Notice
  1. builua

    builua New Member

    Tham gia ngày:
    10/3/10
    Bài viết:
    40
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Tôi làm ở 1 công ty TNHH được 05 năm, năm đầu tiên công ty ký hợp đồng lao động với tôi với thời hạn hợp đồng là 01 năm, nhưng sau đó công ty không ký tiếp hợp đồng lao động nữa, nhưng sau đó tôi vẫn làm việc bình thường. Theo luật lao động hiện hành thì hợp đồng đầu tiên này của tôi sau 30 ngày vẫn tiếp tục làm việc thì đã trở thành hợp đồng vô thời hạn.


    Tuy nhiên, cách đây 01 năm (tức là sau 04 năm làm việc tại công ty), với lý do thay đổi cơ cấu tổ chức, nên giám đốc nhân sự mới có ký lại hợp đồng với toàn bộ nhân viên của công ty, với thời hạn đều là 01 năm. Trong hợp đồng có ghi rõ là các văn bản hoặc hợp đồng ký trước đó không còn hiệu lực nữa.


    Đến nay đã tròn 01 năm, tôi nhận được quyết định nghỉ việc của công ty với lý do: hết hạn hợp đồng lao động. Và công ty không trả cho tôi bất cứ một khoản trợ cấp thôi việc nào. Ghi chú: trước khi công ty ký lại hợp đồng lao động này, khi có nhân viên nghỉ việc, công ty có thực hiện đúng việc trả trợ cấp thôi việc.


    Câu hỏi của tôi là:


    - Công ty cho tôi nghỉ việc như vậy có đúng luật không?


    - Việc công ty không trả trợ cấp thôi việc cho tôi trong trường hợp này có đúng luật không?


    - Công ty phải thực hiện những trách nhiệm gì trong trường hợp này?
     
  2. vutheu

    vutheu New Member

    Tham gia ngày:
    10/3/10
    Bài viết:
    12
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Chào bạn builua


    Vấn đề bạn hỏi tôi xin trả lời như sau:


    THỨ NHẤT:


    Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:


    a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;


    B) Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật lao động.


    c) Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn ốm đau đã điều trị sáu tháng liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động dưới một năm ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động;


    d) Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;


    đ) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.


    Nếu bạn không rơi vào một trong những trường hợp nêu trên thì Người sử dụng lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, đồng thời vi phạm nghĩa vụ thông báo đối với loại HDLD không xác định thời hạn, cụ thể:


    Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này (nêu ở trên), người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:


    a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;


    B) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba năm;


    c) Ít nhất ba ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ, theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm.


    THỨ HAI:


    Việc công ty bạn không trả trợ cấp thôi việc cho bạn là trai pháp luật vì bạn không rơi vào trường hợp của Khoản 1 Điều 17, Điều 31 BLLĐ sửa đổi bổ sung và Điều 85 Bộ luật lao động. Do vậy việc không chi trả trợ cấp thôi việc làm cho bạn là trái phap luật bởi các lẽ sau:


    1- Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm việc và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày người lao động không được làm việc. Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường tương ứng với tiền lương trong những ngày không được làm việc, người lao động còn được trợ cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật này.


    2- Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì không được trợ cấp thôi việc.


    3- Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải bồi thường phí đào tạo nếu có, theo quy định của Chính phủ.


    4- Trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.


    Điều 42 BLLĐ.


    1- Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có.


    Nếu tôi thực sự nắm được đầy đủ các tình tiết của vụ việc này thĩ sẽ tư vấn cho bạn tối ưu, toàn diện và hiệu quả hơn. Vì có nhiều khả năng ngay cả khi bạn nghỉ làm việc theo quyết định cho thôi việc của Công ty thì Luật vẫn được hưởng đầy đủ các chế độ như bình thường, chỉ lưu ý thời hiệu khởi kiện một vụ án lao động để khỏi bị mất quyền lợi của bạn. Và cũng nên hết sức thận trọng để khỏi "mắc bẫy" người sử dụng lao động trước khi vụ việc bị nâng lên thành "tranh chấp lao động"


    Chúc bạn may mắn.
     
  3. thoigianlangtroi

    thoigianlangtroi New Member

    Tham gia ngày:
    10/3/10
    Bài viết:
    2
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Hình như bác chưa đọc kỹ câu hỏi. Ở đây không phải là "đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động" mà phải gọi là "hợp đồng lao động hết hạn", do đó công ty cho bạn builua nghỉ việc khi hết hạn hợp đồng là ĐÚNG
     
  4. tuanquanghw

    tuanquanghw New Member

    Tham gia ngày:
    13/3/09
    Bài viết:
    146
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    - Nếu bạn đã đồng ý ký vào hợp đồng khi công ty yêu cầu (ký lại hợp đồng có thời hạn 1 năm - lần cuối) thì họ làm như thế là đúng. (Theo điều 8 Nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 09-5-2003 "quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động)


    - Công ty không trả trợ cấp thôi việc cho bạn trong trường hợp này là sai.


    Theo hướng dẫn tại thông tư số 39/2009/TT – BLĐTBXH ngày 18.11.2009 của Bộ LĐTBXH thì mức trợ cấp mất việc làm theo quy định tại điều 12 của Nghị định số 39/2003/NĐ - CP được hướng dẫn theo công thức tính như sau:


    Tiền trợ cấp mất việc làm = (số năm được tính hưởng trợ cấp mất việc làm) x (tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp mất việc làm) x 1.


    Trong đó: Số năm được tính hưởng trợ cấp mất việc làm (được tính theo năm) được xác định là tổng thời gian người lao động (NLĐ) làm việc liên tục cho người sử dụng LĐ đó được tính từ khi bắt đầu làm việc đến khi NLĐ bị mất việc làm, trừ đi thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại điều 41 của Nghị định số 127/2008/NĐ - CP, ngày 12.12.2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp.


    Trường hợp tổng thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng LĐ có tháng lẻ (kể cả trường hợp NLĐ có thời gian làm việc cho người sử dụng LĐ từ đủ 12 tháng trở lên nhưng tổng thời gian làm việc tính trợ cấp mất việc làm dưới 12 tháng) thì được làm tròn như sau: Dưới một tháng không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm; Từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng được làm tròn thành 6 tháng làm việc để hưởng trợ cấp mất việc làm bằng 1/2 tháng lương; từ đủ 6 tháng trở lên được làm tròn thành một năm làm việc để hưởng trợ cấp mất việc làm bằng 1 tháng lương.


    Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề của NLĐ trước khi bị mất việc làm, bao gồm: Tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phục cấp chức vụ (nếu có); 1 là một tháng lương cho mỗi năm làm việc.


    Mức trợ cấp việc làm thấp nhất bằng 2 tháng lương, trừ trường hợp thời gian để tính trợ cấp mất việc làm của NLĐ làm dưới một tháng.


    Vậy bạn yêu cầu công ty thanh toán đầy đủ trợ cấp thôi việc cho bạn.
     
  5. builua

    builua New Member

    Tham gia ngày:
    10/3/10
    Bài viết:
    40
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    vâng xin cảm ơn ý kiến đóng góp của các bạn! Chúc các bạn một ngày làm việc thật vui vẻ
     

Chia sẻ trang này

Share