Chế độ cho NLĐ nước ngoài khi công ty đóng cửa?

Thảo luận trong 'LUẬT LAO ĐỘNG, BHXH' bắt đầu bởi hoacomay, 2/2/09.

  1. QUY ĐỊNH DIỄN ĐÀN
    - Đăng bài viết bắt buộc có tiền tố
    - Không đăng bài Quảng Cáo
    - Chỉ được phép đăng bài Tuyển dụng trong lĩnh vực nhân sự, hành chính và liên quan
    - 1 nick chỉ được phép đăng tối đa 2 bài tuyển dụng 1 tuần
    - Bài tuyển dụng bắt buộc phải có thời hạn, và sẽ bị xóa sau khi hết hạn 3 ngày
    ------------------------------
    Liên hệ quản trị diễn đàn: nguyenbaoanh89@gmail.com
    Dismiss Notice
  1. hoacomay

    hoacomay Moderator

    Tham gia ngày:
    1/6/08
    Bài viết:
    1,538
    Đã được thích:
    6
    Điểm thành tích:
    0
    Giới tính:
    Nữ
    Nơi ở:
    Việt Nam
    Công ty em thành lập được hai năm. Do làm ăn khó khăn nên đóng cửa. Toàn bộ hoạt động của công ty sẽ ngừng, tuy nhiên trên danh nghĩa tại thời điểm này chưa thể làm thủ tục đóng cửa công ty được.


    Công ty có bốn người nước ngoài đang làm việc và công ty muốn cho họ nghỉ việc. Xin hỏi công ty giải quyết chế độ cho họ như thế nào theo đúng luật? Giải quyết theo luật Việt Nam hay theo luật của nước họ? (hầu hết những người nước ngoài được cử sang VN công tác đều ký một hợp đồng lao động ở nước ngoài, còn ở VN họ có một hợp đồng lao động (HĐLĐ) theo mẫu của sở LĐ-TB&XH).


    Minh Long
     
  2. hoacomay

    hoacomay Moderator

    Tham gia ngày:
    1/6/08
    Bài viết:
    1,538
    Đã được thích:
    6
    Điểm thành tích:
    0
    Giới tính:
    Nữ
    Nơi ở:
    Việt Nam
    Điều 3 Bộ luật lao động (BLLĐ) quy định: người nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân Việt Nam đều thuộc phạm vi áp dụng của BLLĐ và các quy định khác của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.


    Chiếu theo quy định pháp luật nêu trên, muốn cho bốn người nước ngoài nói trên nghỉ việc, công ty bạn phải giải quyết chế độ cho họ theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam (trừ trường hợp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế với quốc gia mà những người nước ngoài nói trên mang quốc tịch có quy định khác thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế).


    Tuy nhiên theo quy định tại khoản 1 điều 38 BLLĐ, công ty bạn chỉ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với bốn người nước ngoài nói trên trong những trường hợp sau đây:


    a ) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng (không hoàn thành định mức lao động hoặc nhiệm vụ được giao do yếu tố chủ quan và bị lập biên bản hoặc nhắc nhở bằng văn bản ít nhất hai lần trong một tháng, mà sau đó vẫn không khắc phục). Mức độ không hoàn thành công việc được ghi trong HĐLĐ, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao đọng của đơn vị (Theo quy định tại khoản 1 điều 12 nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 9-5-2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về HĐLĐ);


    b ) Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại điều 85 của BLLĐ;


    c ) Người lao động làm theo HĐLĐ không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng ốm đau đã điều trị sáu tháng liền và người lao động làm theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn HĐLĐ mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì được xem xét để giao kết tiếp HĐLĐ;


    d ) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc (lý do bất khả kháng khác là trường hợp do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ cấp tỉnh trở lên, do địch họa, do dịch bệnh không thể khắc phục được dẫn tới việc phải thay đổi, thu hẹp sản xuất kinh doanh - theo quy định tại khoản 2 điều 12 nghị định 44/2003/NĐ-CP);


    đ ) Do công ty chấm dứt hoạt động.


    Nếu công ty bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ với những người nước ngoài nói trên theo đúng quy định tại khoản 1 điều 38 BLLĐ (trừ trường hợp công ty bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại điểm a và b khoản 1 điều 85 BLLĐ, công ty bạn không có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc) thì công ty bạn có trách nhiệm trợ cấp thôi việc cho người lao động theo đúng quy định tại khoản 1 điều 42 BLLĐ (khi chấm dứt HĐLĐ đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có).


    Hoặc theo quy định tại điều 17 BLLĐ, trường hợp công ty bạn do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ (thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn; thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến sử dụng lao động ít hơn; thay đổi cơ cấu tổ chức: sáp nhập, giải thể một số bộ phận của đơn vị - theo quy định tại điều 11 nghị định 39/2003/NĐ-CP ngày 18-4-2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm) mà người lao động đã làm việc thường xuyên trong công ty bạn từ đủ 12 tháng trở lên bị mất việc, công ty bạn phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm, cứ mỗi năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng lương.


    Vậy chiếu theo các quy định pháp luật nêu trên, do tình hình làm ăn khó khăn mà công ty bạn ngừng toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và đơn phương chấm dứt HĐLĐ với người lao động là không đúng theo quy định của pháp luật.


    Trường hợp công ty bạn vẫn đơn phương chấm dứt HĐLĐ vì lý do nêu trên, theo quy định tại điều 41 BLLĐ, công ty bạn phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo HĐLĐ đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).


    Trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, ngoài khoản tiền được bồi thường nêu trên, còn được trợ cấp thôi việc theo quy định tại khoản 1 điều 42 BLLĐ.


    Trường hợp công ty bạn không muốn nhận người lao động trở lại làm việc và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường nêu trên và trợ cấp thôi việc theo quy định tại điều 42 BLLĐ, hai bên thỏa thuận về khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động để chấm dứt HĐLĐ.


    Luật sư TRỊNH VĂN HIỆP


    (Văn phòng luật sư Gia Thành)
     

Chia sẻ trang này

Share