Trả lời một số thắc mắc về Thuế thu nhập cá nhân

Thảo luận trong 'LUẬT LAO ĐỘNG, BHXH' bắt đầu bởi vancongulsa, 21/6/10.

  1. QUY ĐỊNH DIỄN ĐÀN
    - Đăng bài viết bắt buộc có tiền tố
    - Không đăng bài Quảng Cáo
    - Chỉ được phép đăng bài Tuyển dụng trong lĩnh vực nhân sự, hành chính và liên quan
    - 1 nick chỉ được phép đăng tối đa 2 bài tuyển dụng 1 tuần
    - Bài tuyển dụng bắt buộc phải có thời hạn, và sẽ bị xóa sau khi hết hạn 3 ngày
    ------------------------------
    Liên hệ quản trị diễn đàn: nguyenbaoanh89@gmail.com
    Dismiss Notice
  1. vancongulsa

    vancongulsa Thành viên BQT Hà Nội

    Tham gia ngày:
    22/9/09
    Bài viết:
    962
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nam
    1. Mã số thuế cá nhân như thế nào ? tại sao lại phải có mã số thuế?


    Để thực hiện việc quản lý thuế: xác định đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế , quản lý doanh thu, thu nhập chịu thuế, việc sử dụng hoá đơn chứng từ, hoàn thuế... của đối tượng nộp thuế , cơ quan thuế đã tiến hành việc cấp mã số thuế: một đơn vị sản xuất kinh doanh hay một cá nhân phát sinh hoặc liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế sẽ được cấp một mã số thuế riêng biệt. Từ năm 1999, khi triển khai thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng, ngành thuế đã xây dựng chế độ cấp mã số thuế. Đến nay đã cấp mã số thuế cho đối tượng nộp thuế là cá nhân với gần 2 triệu hộ cá nhân kinh doanh; khoảng 300.000 người có thu nhập từ tiền lương, tiền công .


    Mã số thuế là một dãy số được quy định theo một nguyên tắc thống nhất để cấp cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc không kinh doanh nhưng có liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế hoặc khấu trừ thuế tại nguồn. Đối với thuế Thu nhập cá nhân các cơ quan chi trả thu nhập cho cá nhân và cá nhân có thu nhập chịu thuế thuộc diện phải kê khai để được cấp mã số thuế. Mã số thuế được sử dụng để nhận diện đối tượng nộp thuế để kê khai nộp thuế, quyết toán thuế và được cơ quan Thuế quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc.


    Mã số thuế gắn với sự tồn tại của đối tượng nộp thuế, một đối tượng nộp thuế chỉ được cấp 1 mã số thuế duy nhất. Khi đối tượng nộp thuế chấm dứt hoạt động thì mã số thuế không còn giá trị sử dụng.


    2. Tính thuế đối với thu nhập từ trúng thưởng xổ số khác với cách tính hiện hành như thế nào?


    Hiện hành việc thu thuế đối với trúng thưởng được thực hiện theo Pháp lênh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, theo đó tính thuế trên toàn bộ thu nhập trúng thưởng theo ngưỡng quy định.


    Căn cứ vào điều 15 của Luật thì từ 1/1/2009 , chỉ tính thuế đối với số tiền trúng thưởng vượt trên 10 triệu đồng. Ví dụ cá nhân trúng thưởng với giá trị là 16 triệu đồng, thuế thu nhập tính theo Luật thuế TNCN là 0.6 triệu đồng = (16 tr. - 10 tr.) x 10% nhưng theo hiện hành tiền thuế nộp là 1,6 triệu đồng = 16 tr. x 10% .


    3. Chủ doanh nghiệp tư nhân, giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn có phải nộp thuế TNCN hay không sau khi công ty đã nộp thuế TNDN?


    Chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ vốn kinh doanh nên Luật doanh nghiệp qui định chủ doanh nghiệp tư nhân không có chi phí tiền lương vì vậy thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp tư nhân nộp thuế 28% tức là thuế đã tính thuế trên cả tiền lương, tiền công mà không được giảm trừ gia cảnh cho bản thân và người phụ thuộc. Hiện nay, nhà nước đang tạo điều kiện thuận lợi để loại hình doanh nghiệp này phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao động và tạo của cải vật chất cho xã hội. Phần thu nhập còn lại sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp chủ yếu đưa vào đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, theo đó kết quả sản xuất kinh doanh sẽ lớn lên, thuế thu nhập doanh nghiệp vòng sau sẽ tăng lên tương ứng. Vì vậy, thu nhập còn lại sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp tư nhân không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.


    Giám đốc công ty TNHH là người được hội đồng quản trị đề cử hoặc thuê và được trả tiền lương. Khoản chi lương cho giám đốc được hạch toán vào chi phí của Công ty TNHH đồng thời là thu nhập của cá nhân giám đốc. Sau khi nộp thuế TNDN 28%, phần thu nhập còn lại của công ty TNHH được chia cho các thành viên góp vốn. Nếu giám đốc công ty TNHH tham gia góp vốn và được chia lãi thì khoản thu nhập này thuộc thu nhập từ đầu tư vốn và nộp thuế theo thuế suất 5%. Khoản thu nhập từ tiền lương của giám đốc công ty TNHH, nếu đến mức thu nhập chịu thuế thì kê khai nộp thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần.


    4. Việc nộp thuế đối với thu nhập của cá nhân do chuyển nhượng chứng khoán được thực hiện như thế nào? cá nhân có được lựa chọn phương pháp nộp thuế; việc kê khai nộp thuế đối với thu nhập này như thế nào?


    Căn cứ vào khoản 2 điều 13 và khoản 2 điều 23 của Luật thì có 2 phương pháp nộp thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán: Nộp theo thuế suất 20% trên thực lãi hoặc 0,1% trên giá chuyển nhượng.


    Cá nhân được lựa chọn một trong 2 phương pháp nộp thuế trên, cụ thể:


    Thuế suất 20% được áp dụng cho kỳ tính thuế theo năm, được bù trừ lỗ lãi giữa các lần chuyển nhượng, trường hợp bị lỗ thì sẽ được chuyển lỗ trong 5 năm tiếp theo. Trong năm, các công ty chứng khoán có trách nhiệm tạm khấu trừ thuế 0,1% trên giá chuyển nhượng, cuối năm cá nhân thực hiện kê khai, quyết toán cho thu nhập cả năm. Nếu cá nhân chọn nộp thuế theo phương pháp này thì đầu năm thực hiện đăng ký với cơ quan thuế.


    Thuế suất 0,1% được áp dụng trên giá trị từng lần chuyển nhượng chứng khoán. Nếu lựa chọn phương pháp này, cá nhân không cần đăng ký với cơ quan thuế. Công ty chứng khoán thực hiện khấu trừ và nộp thay tiền thuế của nhà đầu tư vào NSNN, đây cũng chính là số thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng chứng khoán của nhà đầu tư.


    5. Thuế TNCN đối với thu nhập được chia để mua cổ phần DN được quy định như thế nào?


    Căn cứ vào điểm 2.1 mục I Thông tư số 81/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 147/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao. Căn cứ vào các quy định tại Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004, Nghị định số 109/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần. Việc nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đối với thu nhập từ Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi được chia cho người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp để mua cổ phần được thực hiện như sau:


    1. Trường hợp các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá trước thời điểm có hiệu lực thi hành của Nghị định số 109/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần thì: Khoản thu nhập mà người lao động nhận được từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi để mua cổ phần ưu đãi và cổ phiếu phổ thông (thông qua đấu giá) của doanh nghiệp mà người lao động đang làm việc không phải nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ.


    2. Trường hợp các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá từ ngày Nghị định số 109/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần có hiệu lực thi hành thì: Khoản thu nhập mà người lao động nhận được từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi để mua cổ phần ưu đãi và cổ phiếu phổ thông (thông qua đấu giá) của doanh nghiệp mà người lao động đang làm việc phải nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.


    6. Cá nhân đầu tư cổ phiếu và được nhận cổ tức bằng cổ phiếu, việc nhận cổ phiếu đó sẽ đóng thuế như thế nào? cá nhân có được trừ gia cảnh khi tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư cổ phiếu không? Trường hợp người lao động được công ty thưởng bằng cổ phiếu thì có phải nộp thuế không?


    1-Đối với trường hợp nhận cổ tức bằng cổ phiếu:


    Điều 6 của Luật qui định, thu nhập chịu thuế nhận được không bằng tiền phải quy đổi ra đồng Việt nam theo giá thị trường của sản phẩm, dịch vụ đó hoặc sản phẩm, dịch vụ cùng loại tương đương tại thời điểm phát sinh thu nhập. Như vậy, nếu cá nhân nhận cổ tức bằng cổ phiếu thì sẽ quy đổi số cổ phiếu này theo giá thị trường tại thời điểm nhận cổ phiếu để xác định thu nhập chịu thuế, sau đó nhân với thuế suất 5% sẽ là số tiền thuế phải nộp. Số thu nhập này không được giảm trừ gia cảnh.


    2-Đối với trường hợp nhận tiền thưởng bằng cổ phiếu:


    Nếu cá nhân được công ty, nơi đang làm việc trả thưởng bằng cổ phiếu thì khoản thu nhập này là khoản thu nhập mang tính chất tiền lương, tiền công và được cộng chung thu nhập từ tiền lương, tiền công để xác định thu nhập chịu thuế và được trừ gia cảnh trước khi tính thuế.


    7. Hai vợ chồng đều có thu nhập: chồng thu nhập 10 triệu đồng/tháng, vợ có thu nhập 8 triệu và nuôi hai con nhỏ thì việc xác định mức giảm trừ gia cảnh như thế nào? Mỗi người đều được giảm trừ cho 2 con hay mỗi người chỉ được giảm trừ cho 1 con? Chỉ giảm trừ cho một người? Việc lựa chọn người giảm trừ mang lại kết quả như thế nào?


    Việc lựa chọn giảm trừ cho 2 con do người nộp thuế lựa chọn, cho vợ hoặc chồng, hoặc mỗi người giảm trừ 1 con nhưng không được tính trùng. Trong năm cơ quan chi trả khấu trừ thuế cho từng người, cuối năm cá nhân điền tờ khai quyết toán thuế nộp cho cơ quan thuế.


    Trường hợp 1: giảm trừ 2 con vào thu nhập của chồng


    Tính thuế của chồng như sau:


    - Tổng mức giảm trừ gia cảnh là 7,2 triệu đồng (trừ cho bản thân người nộp thuế 4 triệu, trừ cho 2 con là 1,6 triệu x 2 = 3,2 triệu).


    - Thu nhập tính thuế là: 2,8 triệu = 10 triệu – 7,2 triệu.


    - Thuế phải nộp là: 2,8 triệu x 5% = 0,14 triệu đồng.


    Tính thuế của vợ như sau:


    - Thu nhập tính thuế 8 triệu – 4 triệu = 4 triêu.


    - Thuế phải nộp 4 triệu x 5% = 0,20 triệu đồng.


    Như vậy, số thuế gia đình nộp sẽ là 0,14 tr. + 0,20 tr. = 0,34 triệu đồng.


    Trường hợp 2: Chọn giảm trừ mỗi người tính 1 con thì số thuế nộp cũng giống nhau vì thu nhập tính thuế của hai vợ chồng đều tính trong một bậc, cụ thể:


    Thuế phải nộp của chồng:


    + Thu nhập tính thuế là 10 triệu – 4 triệu – 1,6 triệu = 4,4 triệu,


    + Thuế phải nộp 4,4 triệu x 5% = 0,22 triệu đồng


    Thuế phải nộp của vợ:


    + Thu nhập tính thuế là 8 triệu – 4 triệu – 1,6 triệu = 2,4 triệu


    + thuế phải nộp 2,4 triệu x 5% = 0,12 triệu.


    Tổng số thuế phải nộp của gia đình 0,34 triệu đồng = 0,22 tr. + 0,12 tr.


    Trường hợp 3: Thu nhập của vợ hoặc chồng cao hơn và thu nhập tính thuế ở khác bậc, thì thuế phải nộp của gia đình sẽ khác nhau.


    Giả dụ cùng thu nhập là 18 tr đ của gia đình trên, nhưng thu nhập của chồng là 12,2 tr đ và của vợ là 4,8 tr đ.


    - Giảm trừ gia cảnh của 2 con vào thu nhập của chồng:


    + Thu nhập tính thuế của chồng là 6,0 tr = (13,2 tr – 4 tr -3,2 tr )


    + Thuế TNCN của chồng là 0, 35 tr


    + Thu nhập tính thuế của vợ là 0,8 tr đ =( 4,8 tr- 4 tr)


    + Thuế TNCN của vợ là 0,04 tr đ


    Thuế TNCN của gia đình là 0, 39 tr đ


    - Giảm trừ gia cảnh chia cho mỗi ngưòi 1 con thì thuế nộp sẽ có kết quả khác với việc giảm trừ gia cảnh chỉ cho người chồng, cụ thể là :


    + Thu nhập tính là thuế của chồng là 13,2 tr – 5,6 tr = 7,6, thuế nộp là 0,51 tr đ


    + Thu nhập tính thuế của vợ bằng 0, vợ không phải nộp thuế;


    Tổng tiền thuế nộp của gia đình là 0,51 tr, nhiều hơn trường hợp giảm trừ cả 2 con cho người chồng là 0,12tr đ.


    Qua ví dụ trên cho thấy việc lựa chọn người được giảm trừ gia cảnh do người nộp thuế quyết định là tạo chủ động cho người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế theo hướng thuận lợi cho người nộp thuế.


    8. Thù lao của tổ chức khấu trừ thuế và thù lao ủy nhiệm thu thuế thu nhập cá nhân áp dụng từ khi có luật quản lý thuế là như thế nào ?


    1. Căn cứ quy định tại Điều 7 Chương I Luật Quản lý Thuế số 78/2006/QH11, Điều 2 Chương I Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007, tại điểm 1 công văn 5229/BTC-TCT đã hướng dẫn: “Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế (bao gồm cả tổ chức, cá nhân giao đại lý có trách nhiệm khấu trừ thuế TNDN của đại lý là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh) là người nộp thuế phải có trách nhiệm nộp đủ 100% số thuế khấu trừ vào NSNN và không được hưởng thù lao trích trước khi nộp thuế.”


    Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế đã được quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 2 Chương I Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007. Theo đó:


    - Bên Việt Nam ký hợp đồng với nhà thầu nước ngoài; bên Việt Nam làm đại lý tàu biển, đại lý cho các hãng vận tải nước ngoài vừa là tổ chức khấu trừ thuế vừa là người nộp thuế. Vì vậy bên Việt Nam ký hợp đồng với nhà thầu, bên Việt Nam làm đại lý tàu biển, đại lý cho hãng vận tải nước ngoài khi thanh toán tiền phải thực hiện khấu trừ thuế của nhà thầu, khấu trừ thuế của hãng vận tải nước ngoài và nộp đủ 100% số thuế khấu trừ vào NSNN và không được hưởng thù lao khi nộp thuế.


    - Đối với tổ chức, cá nhân giao đại lý cho các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và có trách nhiệm khấu trừ thuế TNDN trên tiền hoa hồng trả cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thì tổ chức, cá nhân giao đại lý cũng là tổ chức khấu trừ thuế và là người nộp thuế. Do đó tổ chức, cá nhân giao đại lý phải nộp đủ (100%) số thuế TNDN khấu trừ vào NSNN và không được hưởng thù lao khi nộp thuế.


    2. Điều 3 Chương I Nghị định 85/2007/NĐ-CP nêu trên quy định: “Cơ quan quản lý thuế ủy nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thu một số loại thuế theo quy định của Bộ Tài chính. ..Bên được ủy nhiệm thu thuế có trách nhiệm: thông báo và đôn đốc người nộp thuế thực hiện nộp thuế theo hợp đồng ủy nhiệm thu; cấp chứng từ thu tiền cho người nộp thuế khi thu tiền thuế; nộp tiền thuế đã thu được vào tài khoản của cơ quan quản lý thuế tại Kho bạc Nhà nước; quyết toán số tiền thuế thu được và biên lai thu tiền thuế với cơ quan quản lý thuế; theo dõi và báo cáo với cơ quan quản lý thuế các trường hợp phát sinh người nộp thuế mới hoặc có thay đổi quy mô, ngành nghề kinh doanh của người nộp thuế trên địa bàn ủy nhiệm thu.”


    Theo các quy định trên: Bên được ủy nhiệm thu thuế không phải là người nộp thuế mà là bên thứ 3 làm trung gian giữa cơ quan thuế và người nộp thuế. Do đó các Cục thuế không ký hợp đồng ủy nhiệm thu đối với tổ chức chi trả thu nhập, bên Việt Nam ký hợp đồng với nhà thầu nước ngoài, bên Việt Nam làm đại lý tàu biển (hoặc đại lý cho các hãng vận tải nước ngoài), tổ chức, cá nhân kinh doanh giao đại lý vì các đối tượng này là người nộp thuế. Người nộp thuế có trách nhiệm khấu trừ tiền thuế nộp đủ tiền thuế khấu trừ vào NSNN.


    3. Trường hợp trước ngày công văn số 5229/BTC-TCT, các tổ chức khấu trừ thuế khi chi trả thu nhập và các tổ chức được ủy nhiệm thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã trích tiền thù lao từ tiền thuế theo các văn bản hướng dẫn về chính sách thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, chính sách ủy nhiệm thu ban hành từ trước ngày Luật Quản lý thuế có hiệu lực thì không thu hồi lại số thù lao đã trích.


    4. Khoản 2 Điều 80 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.”


    Theo đó mặc dù Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2001 quy định “tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế thu nhập được hưởng từ 0,5% đến 1% số tiền thuế đã nộp vào NSNN theo quy định của Bộ Tài chính” (Điều 17) nhưng Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn và được ban hành sau. Tại Điều 7 Chương I Luật Quản lý Thuế số 78/2006/QH11, Điều 2 Chương I Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 đã có quy định tổ chức chi trả thu nhập là người nộp thuế và không được hưởng thù lao. Do đó những quy định của Luật Quản lý thuế sẽ bãi bỏ các quy định về quản lý thuế của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được ban hành trước.


    Vì vậy kể từ ngày 1/7/2007 việc trích thù lao của tổ chức khấu trừ thuế, tổ chức ủy nhiệm thu thuế phải được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.


    Theo đó:


    - Các Tờ khai thuế thu nhập cá nhân theo mẫu số 01/TNCN; Tờ khai thuế thu nhập cá nhân khấu trừ 10% theo mẫu số 02/TNCN; Tờ khai thuế thu nhập của người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam theo mẫu số 03/TNCN; Tờ khai quyết toán thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao theo mẫu số 04/TNCN; Tờ khai thuế nhà thầu theo mẫu số 01/NTNN; Tờ khai quyết toán thuế nhà thầu nước ngoài theo mẫu số 02/NTNN; Tờ khai thuế cước theo mẫu số 01/CUOC ban hành kèm theo Thông tư số 60/2007/TT-BTC sẽ không còn có các chỉ tiêu phản ánh “tiền thù lao được hưởng” của tổ chức khấu trừ thuế thu nhập, bên Việt Nam khấu trừ thuế Nhà thầu, thuế cước. Vì vậy đề nghị các Cục thuế có văn bản thông báo và hướng dẫn người nộp thuế thực hiện.


    - Quy định tổ chức chi trả thu nhập được hưởng thù lao tính trên số thuế đã khấu trừ theo Thông tư số 81/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ Tài chính đã bị bãi bỏ khi Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành.


    5. Điểm 2 công văn số 5229/BTC-TCT ngày 7/5/2008 của Bộ Tài chính đã hướng dẫn tỷ lệ thù lao bên nhận ủy nhiệm thu thuế thu nhập cá nhân được hưởng. Hướng dẫn này theo quy định tại Phần D Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính. Ngoài ra, thù lao bên nhận ủy nhiệm thu thuế thu nhập cá nhân được hưởng là khác với thù lao bên nhận ủy nhiệm thu thuế khoán của hộ kinh doanh vì hiện nay hộ kinh doanh chưa nộp thuế thu nhập cá nhân mà đang thực hiện nộp thuế TNDN. Vì vậy đề nghị các Cục thuế thực hiện theo đúng hướng dẫn tại điểm 2 công văn 5229/BTC-TCT ngày 7/5/2008 nêu trên khi trích kinh phí ủy nhiệm thu thuế TNCN để trả cho bên nhận ủy nhiệm thu.


    Theo VTCA
     
    Last edited by a moderator: 21/6/10
  2. kina

    kina New Member

    Tham gia ngày:
    22/4/10
    Bài viết:
    92
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Giới tính:
    Nữ
    Nơi ở:
    Long Biên, Hà Nội
    [qu


    ote name=vancongulsa' date='Jun 21 2010, 12:02 AM' post='47078]


    Mình đính kèm thêm biểu thuế để tham khảo nhé.

    luat_thue_thu_nhap_ca_nhan.doc
     

    Các file đính kèm:

    Last edited by a moderator: 21/6/10

Chia sẻ trang này

Share