Giới thiệu tổng quan về Nghệ An

Thảo luận trong 'HRLINK NGHỆ AN' bắt đầu bởi vancongulsa, 30/3/10.

  1. QUY ĐỊNH DIỄN ĐÀN
    - Đăng bài viết bắt buộc có tiền tố
    - Không đăng bài Quảng Cáo
    - Chỉ được phép đăng bài Tuyển dụng trong lĩnh vực nhân sự, hành chính và liên quan
    - 1 nick chỉ được phép đăng tối đa 2 bài tuyển dụng 1 tuần
    - Bài tuyển dụng bắt buộc phải có thời hạn, và sẽ bị xóa sau khi hết hạn 3 ngày
    ------------------------------
    Liên hệ quản trị diễn đàn: nguyenbaoanh89@gmail.com
    Dismiss Notice
  1. vancongulsa

    vancongulsa Thành viên BQT Hà Nội

    Tham gia ngày:
    22/9/09
    Bài viết:
    962
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nam
    [SIZE=10pt]Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng Bắc Trung Bộ. Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía tây giáp Lào, phía đông giáp biển Đông. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Vinh, nằm cách thủ đô Hà Nội 291 km về phía nam. [/SIZE]


    Lịch sử tên gọi

    ◦Thời Hùng Vương và An Dương Vương, tỉnh Nghệ An bao gồm bộ Hoài Hoan và phần bắc bộ Cửu Đức.


    ◦Thời nhà Hán, thuộc huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân.


    ◦Đời nhà Tấn là quận Cửu Đức.


    ◦Đời nhà Tùy là quận Nhật Nam.


    ◦Năm 628 đổi là Đức Châu, rồi lại đổi thành Châu Hoan, lại Châu Diễn.


    ◦Đời nhà Đường là quận Nam Đức.


    ◦Thời nhà Ngô, tách ra khỏi quận Cửu Chân đặt làm quận Cửu Đức.


    ◦Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê gọi là Hoan Châu.


    ◦Năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An.


    ◦Từ năm 1490 gọi là xứ Nghệ An.


    ◦Thời Tây Sơn, gọi là Nghĩa An trấn.


    ◦Bản triều năm Gia Long nguyên niên lại đặt làm Nghệ An trấn.


    ◦Năm 1831, vua Minh Mệnh chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía nam sông Lam). Sau đó hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáp nhập lại, lấy tên là tỉnh An Tĩnh.


    ◦Từ năm 1976 đến 1991, Nghệ An và Hà Tĩnh là một tỉnh và được gọi là tỉnh "Nghệ Tĩnh".


    ◦Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay.


    ◦Ngày 15 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ Việt Nam thành lập thị xã Thái Hòa, thuộc tỉnh Nghệ An trên cơ sở tách thị trấn Thái Hòa và 7 xã thuộc huyện Nghĩa Đàn.

    Điều kiện tự nhiên

    Diện tích: 16.498,5km2


    Dân số: 3.103.400 người (Sơ lược Trung bình năm 2007 - Theo website - Tổng Cục Thống kê)


    Dân tộc: Việt (Kinh), Khơ Mú, Sán Dìu, Thái, H'Mông, Ơ Đu...


    Mật độ dân số trung bình: 188 người /km2


    Tỉnh thành: Thành phố Vinh


    Huyện thị: Thị xã Cửa Lò, Thị xã Thái Hòa và 17 huyện, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Đô Lương, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn.


    [SIZE=12pt]Vị trí địa lý[/SIZE]

    Tỉnh Nghệ An thuộc bắc trung bộ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, toạ độ địa lý từ 18o33'10" đến 19o24'43" vĩ độ Bắc và từ 103o52'53" đến 105o45'50" kinh độ Đông.


    ◦Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá với đường biên dài 196,13 km.


    ◦Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh với đường biên dài 92,6 km.


    Đường thành phố Vinh năm 1927


    ◦Phía Tây giáp nước bạn Lào với đường biên dài 419 km.


    ◦Phía Đông giáp với biển Đông với bờ biển dài 82 km.


    ◦Diện tích đất tự nhiên 1.648.729 ha.


    ◦Dân số năm 2004: 3.003.000 người, mật độ dân số trung bình là 183 người/km2


    Tỉnh Nghệ An có 1 thành phố loại 2, 02 thị xã và 17 huyện: Thành phố Vinh; Thị xã Cửa Lò; Thị xã Thái Hòa; 10 huyện miền núi: Thanh Chương, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn; 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành.

    [SIZE=12pt]Địa hình[/SIZE]

    Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam. Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0,2 m so với mặt nước biển (đó là xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh Lưu).


    Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh.

    [SIZE=12pt]Khí hậu - Thời tiết[/SIZE]

    Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau).


    Năm 2004:


    ◦Nhiệt độ trung bình là 24,2oC, cao hơn so với trung bình hàng năm là 0,2o C


    ◦Tổng lượng mưa trong năm là 1.610,9mm, lượng mưa thấp nhất là 1110,1 mm ở huyện Tương Dương. Tổng số ngày mưa trong năm là 157 ngày nhiều hơn năm 2003 là 33 ngày.


    ◦Độ ẩm trung bình hàng năm là: 84%, độ ẩm thấp nhất là 42% vào tháng 7


    ◦Tổng số giờ nắng trong năm 2004 là 1.460 giờ, thấp hơn năm 2003 là 270 giờ.

    Sông ngòi:

    Tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2. Sông lớn nhất là sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyện Mường Pẹc tỉnh Xieng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km (riêng trên đất Nghệ An có chiều dài là 361 km), diện tích lưu vực 27.200 km2 (riêng ở Nghệ An là 17.730 km2). Tổng lượng nước hàng năm khoảng 28.109 m3 trong đó 14,4.109 là nước mặt.
     
    Last edited by a moderator: 30/3/10
  2. vancongulsa

    vancongulsa Thành viên BQT Hà Nội

    Tham gia ngày:
    22/9/09
    Bài viết:
    962
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nam
    Non nước Cửa Lò

    Nhìn chung nguồn nước khá dồi dào, đủ để đáp ứng cho sản xuất và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân.

    Biển, bờ biển

    Hải phận rộng 4.230 hải lý vuông, từ độ sâu 40m trở vào nói chung đáy biển tương đối bằng phẳng, từ độ sâu 40m trở ra có nhiều đá ngầm, cồn cát. Vùng biển Nghệ An là nơi tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao.

    Bải biển Cửa Lò là một trong những bãi tắm đẹp và hấp dẫn, đó là lợi thế cho việc phát triển nhành du lịch ở Nghệ An.

    Bờ biển Nghệ An có chiều dài 82 km, có 6 cửa lạch thuận lợi cho việc vận tải biển, phát triển cảng biển và nghề làm muối (1000 ha).



    Tài nguyên thiên nhiên Nghệ An


    Tài nguyên đất


    ◦Tổng diện tích đất tự nhiên là 1.648.729 ha, trong đó đất nông nghiệp là 207.100 ha, đất lâm nghiệp là 1.195.477 ha (trong đó đất có rừng là 745.557 ha, đất không có rừng là 490.165 ha).

    Tài nguyên rừng

    ◦Tổng diện tích rừng 745.557 ha, độ che phủ đạt 45,2% (theo số liệu năm 2004).
    ◦Trữ lượng gỗ có trên 52 triệu m3 gồm nhiều loại gỗ quý như pơmu, samu, lim, sấu, đinh hương, sến...
    ◦Tre, nứa, mét: có trên 1 tỷ cây; ước tính có khoảng 226 loài dược liệu và nhiều lâm sản quý.

    Tài nguyên biển

    Có trên 267 loài cá thuộc 91 họ, trong đó có 62 loài có giá trị kinh tế cao, có thể chia thành 2 nhóm sau:

    ◦Nhóm gần bờ có 121 loài chiếm 45,32% (trong đó cá nổi có 20 loài bằng 7,5%, cá đáy và gần đáy 101 loài, tương ứng 37,82%).
    ◦Nhóm xa bờ 146 loài chiếm 54,68% (trong đó cá nổi 39 loài bằng 14,61%, cá đáy và gần đáy 107 loài bằng 40,07%).
    ◦Trữ lượng cá biển trên 80.000 tấn, trong đó cá xa bờ khoảng 50.000 tấn chiếm gần 62%, cho phép khai thác từ 30.000-35.000 tấn, có nhiều loại cá có giá trị kinh tế cao như: cá chim; cá thu; cá hồng, nục...
    ◦Có 20 loài tôm thuộc 8 giống và 6 họ trong đó có tôm he, tôm rảo, tôm bộp, tôm vàng, tôm sắt, tôm đất, tôm sú và tôm hùm. Trữ lượng 610 - 680 tấn, phân bố tại các bãi tôm chính như sau:
    ◦Bãi tôm từ cửa Lạch Bạng đến Lạch Quèn (huyện Quỳnh Lưu): 250 - 300 tấn.
    ◦Bãi tôm Diễn Châu: 360-380 tấn, trong đó tôm he từ 100-150 tấn.
    ◦Tôm hùm là loại tôm có giá trị xuất khẩu cao, có trữ lượng từ 20-25 tấn, tập trung tại các vùng rạn đá ven các đảo và các vùng có đá ngầm trong vùng biển.
    ◦Ngoài ra, tài nguyên biển Nghệ An còn có một số loại hải sản quý khác, đó là mực. Mực phân bố khắp vùng biển và có nhiều loài, nhưng qua thực tế khai thác một số loài có sản lượng cao là mực cơm, mực ống và mực nang.

    Tài nguyên động vật

    ◦Phát hiện 342 loài thuộc 91 họ - 27 bộ gồm:
    ◦Động vật có vú: 9 bộ - 24 họ - 78 loài
    ◦Lớp chim: 15 bộ - 47 họ - 202 loài
    ◦Lớp bò sát: 2 bộ - 14 họ - 41 loài
    ◦Lưỡng cư: 1 bộ - 6 họ - 21 loài
    ◦Trong số 342 loài trên, có 48 loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Ngoài ra các lớp khác chưa có nghiên cứu cụ thể.
    ◦Danh mục loài có trong sách đỏ là: báo lửa, báo gấm, báo hoa mai, hổ, voi, mang lớn, bò tót, sao la, công, trĩ sao, gà lôi...

    Tài nguyên thực vật

    ◦Phát hiện 1.193 loài thuộc 163 họ - 537 chi. Trong đó:
    ◦Hạt kín: 2 lá mầm 114 họ - 460 chi - 105 loài; 1 lá mầm 18 họ - 50 chi - 105 loài.
    ◦Hạt trần: 4 họ - 6 chi - 10 loài
    ◦Quyết thực vật: 19 họ - 21 chi - 34 loài.
    ◦Trong đó có 4 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng
    ◦Các loài có trong sách đỏ bao gồm: Lim xanh, giáng hương, giổi, lát hoa...

    Tài nguyên khoáng sản

    ◦Có 113 vùng mỏ lớn, nhỏ và 171 điểm quặng, nổi bật là: than, thiếc, bauxit, đá vôi, đá oplat, sét gạch ngói, sét xi măng và một số khoáng sản khác
    Khoáng sản nhiên liệu:

    ◦Than mỡ ở mỏ than Khe Bố sản lượng khai thác hàng năm từ 30 - 40 ngàn tấn.
    ◦Than nâu ở mỏ than Việt Thái (Nghĩa Đàn) và mỏ Đôn Phục (Con Cuông) với trữ lượng gần 1 triệu tấn.
    Khoáng sản kim loại:

    ◦Kim loại đen:
    ◦Sắt: ở Vân Trình (Nghi Lộc) và Võ Nguyên (Thanh Chương). Trữ lượng cả 2 mỏ hơn 1,8 triệu tấn với hàm lượng Fe = 41,53 - 67,05%.
    ◦Manngan: ở Rú Thành (Hưng Nguyên) trữ lượng C1 là 91.735 tấn, C2 là 131.296 tấn.
    ◦Kim loại màu quý hiếm:
    ◦Thiếc: Tập trung ở vùng Quỳ Hợp và Quế Phong. Vùng Quỳ Hợp có 10 mỏ thiếc sa khoáng đã được điều tra với trữ lượng cấp C1+C2 là 33.678 tấn. Mỏ sa khoáng Na-Ca (Quế Phong) trữ lượng B + C1 + C2 loại SnO2 từ 367 đến 2027 g/m3 là 9760 tấn
    ◦Vàng được phát hiện ở nhiều nơi trong tỉnh gồm vàng sa khoáng, vàng gốc và vàng đã được điều tra ở nhiều mức độ khác nhau.
    ◦Monazit ở huyện Quỳ Hợp trữ lượng C2 đạt gần 3 triệu tấn
    Khoáng sản phi kim:

    ◦Barit có ở nhiều nơi, trong đó mỏ Sơn Thành trữ lượng cấp C1 là 55.623 tấn quặng, 35.029 tấn Barit, cấp C2 là 108.997 tấn quặng, 66.398 tấn barit
    ◦Kaolin: sét ở huyện Nghi Lộc trữ lượng cấp C2 là 6.982.812 tấn
    ◦Đá vôi có trữ lượng lớn và chất lượng tốt, chủ yếu tập trung tại Phúc Sơn (Anh Sơn) và Hoàng Mai (Quỳnh Lưu)
    ◦Sét đã tìm thấy ở 4 mỏ lớn với tổng trữ lượng 9 triệu tấn.
    ◦Đá Marble và Granitte ở huyện Quỳ Hợp gồm nhiều loại và có màu sắc đẹp
    ◦Photphorits phân bô ỏ các núi đá vôi
    ◦Đa quý (rubi) có ở Quỳ Châu
    Các loại tài nguyên khác:

    Nghệ An có trữ lượng một số loại khoáng sản khá lớn, bao gồm:

    ◦Đá vôi trên 1 tỷ tấn (Quỳnh Lưu, Đô Lương, Anh Sơn,…)
    ◦Đá xây dựng trên 1 tỷ m3 (Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Đô Lương, Thanh Chương, Nghiã Đàn, Anh Sơn)
    ◦Đất sét làm nguyên liệu xi măng 300 triệu tấn (Quỳnh Lưu, Đô Lương, Anh Sơn,…)
    ◦Đá trắng 982 triệu tấn (Quỳ Hợp, Quỳ Châu)
    ◦Đá bazan 260 triệu m3 (Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp)
    ◦Đá đen trên 54 triệu m3 (Con Cuông, Đô Lương)
    ◦Đá Granite 160 triệu tấn (Tân Kỳ)
    ◦Sét làm gốm sứ cao cấp trên 300 triệu tấn (Nghi Lộc, Đô Lương, Yên Thành, Tân Kỳ)
    ◦Than 5 triệu tấn (Tương Dương, Con Cuông)
    ◦Than bùn trên 10 triệu tấn (Tân Kỳ, Yên Thành)
    ◦Vàng sa khoáng ở thượng nguồn sông Hiếu, sông Lam (Quỳ Châu, Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn)
    Đặc điểm lợi thế là các tài nguyên trên của Nghệ An tập trung thành những quần thể, nguyên liệu chính và nguyên liệu phụ ở gần nhau, có chất lượng cao, gần đường giao thông nên rất thuận lợi cho sản xuất xi măng, gốm sứ, bột đá siêu mịn, gạch lát, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, phân vi sinh v.v..



    Nước khoáng:

    Được phát hiện ở huyện Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Đô Lương. Nước khoáng thuộc loại bicacbonat canxinatri có chứa CO2 tự do. Chất lượng tốt, được dùng giải khát và chữa bệnh.
     
    Last edited by a moderator: 30/3/10
  3. vancongulsa

    vancongulsa Thành viên BQT Hà Nội

    Tham gia ngày:
    22/9/09
    Bài viết:
    962
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nam
    Tiềm năng du lịch Nghệ An

    Nghệ An còn lưu giữ được nhiều di tích văn hoá lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh, lễ hội văn hoá truyền thống - đó là những yếu tố thuận lợi giúp cho du lịch Nghệ An phát triển.

    Các danh lam thắng cảnh:

    Khu du lịch Cửa Lò: Điểm du lịch biển hấp dẫn với bãi cát trắng mịn chạy dài gần 10 km, thông ra Hòn Ngư, Hòn Mắt, Đảo Lan Châu e ấp ven bờ như một nét chấm phá của bức tranh thuỷ mạc. Tất cả đã tạo ra cho Cửa Lò có một sức hấp dẫn mạnh mẽ với du khách thập phương.

    Đến cuối nănm 2004, thị xã Cửa Lò đã có 40 khách sạn được xếp hạng từ 1-3 sao với 5.707 phòng có tiện nghi hiện đại, 11.986 giường khang trang và 1.653 giường đủ tiêu chuẩn quốc tế. Thị xã Cửa Lò có nhiều khu vui chơi giải trí cho du khách như: Quảng trường Bình Minh, Công viên tuổi thơ, Sân bóng chuyền bãi biển.

    Theo quy hoạch tổng thể khu du lịch Cửa Lò đã được phê duyệt, Thị xã du lịch biển này sẽ ngày càngthoả mãn nhu cầu của khách du lịch.

    Vườn quốc gia Pù Mát

    Vùng nghiêm ngặt rộng 91.113 ha thuộc địa phận của 3 huyện: Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương. Đây là khu rừng nguyên sinh có giá trị nghiên cứu khoa học và bảo tồn đa dạng sinh học.

    Hệ thực vật rất đa dạng và phong phú: có 986 loài thực vật bậc cao thuộc 552 chi và 153 họ, có trên 200 loài cây thuốc quý như:hà thủ ô, thổ phục linh, quế, bạ kích, hoài sơn... các loài cây gỗ quý như trầm hương, ngoài ra, tại đây còn có hàng trăm loại cây thực phẩm và cây ăn quả cã giá trị.

    Hệ động vật rất đa dạng: có 241 loài thú, 86 họ, 28 bộ, trong đó có 24 loài thú, 137 loài chim, 25 loài bò sát, 15 loài lưỡng thê; có thể kể tên một số loài như: hổ, báo hoa mai, báo gấm, heo rừng, vọc, vượn đen, gấu chó.. rừng Pù Mát là nơi có đàn voi lớn nhất ở Việt Nam và có nhiều loài chim quý, hiÕm như: trí sao, gà lôi, gà tiêu...

    Hiện nay, nhiều tổ chức bảo vệ môi trường thế giới cũng như trong nước, đang có các dự án để bảo tồn và phát triển vườn quốc gia Pù Mát, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống tạo thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn.



    Tượng đài Bác Hồ tại quảng trường Hồ Chí Minh


    Khu du lịch thành phố Vinh

    Thành phố Vinh nằm ở vị trí giao thông thuận tiện, có quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua, có sân bay Vinh nằm cách trung tâm thành phố không xa. Thành phố Vinh còn là đầu mối giao thông quan trọng giữa miền Bắc và miền Nam. Khách đi du lịch theo tuyến quốc lộ 1A ngày càng tăng, lượng du khách đến với Nghệ An theo đó cũng tăng. Số lượt du khách lưu trú tại Nghệ An ngày một đông hơn bởi nơi đây tiềm năng du lịch đã được khai thác rất bài bản, hệ thống, khách sạn được nâng cấp và xây mới hiện đại, khang trang.

    Thành phố Vinh từ lâu đã hấp dẫn du khách bởi một quần thể khu du lịch với những nét đặc trưng tiêu biểu của một đô thị xứ Nghệ. Đến với thành phố Vinh, du khách có thể tham gia vào nhiều loại hình du lịch như: du lịch nghiên cứu, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng... Thành phố Vinh còn có nhiều di tích, danh thắng.

    Thành phố có tới 14 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 16 di tích được xếp hạng của tỉnh. Các di tích danh thắng tiêu biểu như:

    ◦Di tích Văn hóa lịch sử: Đền Hồng Sơn, chùa Cần Linh
    ◦Danh thắng: Lâm viên núi Quyết, rừng Bần-Tràm chim Hư­ng Hoà
    ◦Bảo tàng: Bảo tàng Xô viết-Nghệ Tĩnh, Bảo tàng Quân khu 4, Bảo tàng Tổng hợp Nghệ An.
    ◦Công viên: Công viên Nguyễn Tất Thành, Công viên Trung tâm, Khu vui chơi-giải trí-du lịch Hồ Cửa Nam.
    ◦Đặc sản: cháo Lươn Vinh
    ◦Lễ hội: Lễ hội đền Hồng Sơn
    ◦Vùng Phụ cận: Đài liệt sỹ Xô Viết-Nghệ Tĩnh (Thái Lão), Nhà l­ưu niệm cố Tổng bí thư Lê Hồng Phong. Đền thờ và mộ Ông Hoàng Mười, Khu di tích đại thi hào Nguyễn Du, Đền Củi.
    Di tích văn hoá, lịch sử

    Cho tới năm 2004 có gần 1.000 di tích lịch sử văn hoá được nhận biết, trong đó có 131 di tích lịch sử, văn hoá đã được công nhận cấp quốc gia. Một số di tích danh thắng nổi tiếng như:

    ◦Khu di tích Kim Liên: Khu di tích Kim Liên gắn với thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chi Minh. Nơi đây còn lưu giữ những kỷ niệm thuở nhỏ của cậu bé Nguyễn Sinh Cung, những dấu tích và những kỷ vật của gia đình. Cách trung tâm Tp Vinh 12 km về phía Tây Nam.
    ◦ Làng Vạc: (Di chỉ khảo cổ học thuộc xã Nghiã Hoà huyện Nghĩa Đàn). Làng Vạc được biết đến từ đầu những năm 70, trong hơn 10 năm qua các nhà khảo cổ học đã thu thập được hàng trăm, hàng ngàn hiện vật văn hoá tiêu biểu cho thời kỳ Đông Sơn, cách đây chừng khoảng 2500 - 2000 năm trước với trình độ hoàn mỹ của nghề đúc đồng.
    ◦Hang Thẩm Ồm: Đây là di chỉ khảo cổ học về nơi cư trú của người Việt cổ ở xã Châu Thuần, huyện Quỳ Châu. Hang Thảm Ồm nằm giữa một vùng hang động đẹp: Tôn Thạc, Thăm Chang (Châu Thuận), Hang Bua (Châu Tiến).
    ◦Khu di tích Mai Hắc Đế: (ở huyện Nam Đàn) Nằm trong quẩn thể du lịch núi Đụn, hiện có 3 hạng mục công trình tiêu biểu đó là: đền thờ Mai Hắc Đế, lăng mộ Mai Hắc Đế và mộ mẹ vua Mai.
    ◦Đền Cuông - An Dương Vương: Cách thành phố Vinh chừng 30 km về phía Bắc, theo quốc lộ 1A, ngôi đền nằm bên sườn núi Mộ Dạ (còn có tên là Dạ Muỗi). Là nơi thờ Thục An Dương Vương cùng với truyền thuyết cây nỏ thần. Ngày 15 tháng 02 âm lịch hàng năm là ngày lễ hội đền Cuông được nhân dân tổ chức trọng thể.
    ◦Di tích đình Hoành Sơn (Khánh Sơn - Nam Đàn)
    ◦Di tích đình Trung Cần (Nam Trung - Nam Đàn)
    ◦Di tích đền Cờn (Quỳnh Phương - Quỳnh Lưu). Cách thành phố Vinh chừng 75 km
    ◦Di tích đền thờ - mộ Nguyễn Xí (Nghi Hợp - Nghi Lộc)
    ◦Di tích thành cổ Vinh (Tp Vinh)
    ◦Di tích đền Hồng Sơn (phường Hồng Sơn - Tp Vinh)
    ◦Di tích nhà đồng chí Lê Hồng Phong (Hưng Thông - Hưng Nguyên). Cách thành phố Vinh chừng 8 km
    ◦Khu di tích Bến Thuỷ (Tp Vinh)
    ◦Khu di tích danh thắng Cửa Lò (thị xã Cửa Lò). Cách thành phố Vinh chừng 17 km
    ◦Hang Bua (Châu Tiến - Quỳ Châu). Cách thành phố Vinh chừng 120 km
    ◦Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (Con Cuông). Cách thành phố Vinh chừng 110 km
    ◦Di tích đền Bạch Mã (Võ Liệt - Thanh Chương). Cách thành phố Vinh chừng 50 km
    ◦Di tích đền Quả Sơn (Bồi Sơn - Đô Lương)
    ◦Di tích đình Võ Liệt (Võ Liệt - Thanh Chương)
    ◦Di tích nghĩa trang liệt sỹ 12/9 (Thái Lão - Hưng Nguyên)
    ◦Di tích đền «ng Hoàng Mười (Hưng Thịnh - Hưng Nguyên). Cách thành phố Vinh chừng 2 km
    ◦Cụm di tích Xứ uỷ làng Đỏ Hưng Dũng (Hưng Dũng - TP Vinh)
    ◦Nghĩa trang liệt sỹ Việt Lào (Anh Sơn)
    ◦Di chỉ khảo cổ học Quỳnh Văn (Quỳnh Lưu)
    ◦Di chỉ khảo cổ học Đồng Mõm (Diễn Thọ - Diễn Châu)

    Các Lễ hội chính của Nghệ An

    ◦Lễ hội Vua Mai Thúc Loan (Huyện Nam Đàn) - Ngày 14-16/01 (Âm lịch)
    ◦Lễ hội Đền Quả Sơn (Huyện Đô Lương) - Ngày 10-21/01 (Âm lịch)
    ◦Lễ hội Hang Bua (Huyện Quỳ Châu) - Ngày 21-23/01 (Âm lịch)
    ◦Lễ hội Đền Cờn (Huyện Quỳnh Lưu) - Ngày 19-21/01 (Âm lịch)
    ◦Lễ hội Đền Cuông (Huyện Diễn Châu) - Ngày 14-16/02 (Âm lịch)
    ◦Lễ hội Làng Sen (Xã Kim Liên - Huyện Nam Đàn) - Ngày 18/5/2005(Dương lịch)
    ◦Lễ hội Uống nước Nhớ Nguồn (Huyện Anh Sơn ) - Ngày 25-27/7 (Dương lịch)
    ◦Lễ hội Sông nước Cửa Lò (Khai mạc mùa du lịch biển) - Ngày 30/4 và 1/5 (Dương lịch)
    ◦Lễ hội Đền Hoàng Mười (Huyện Hưng Nguyên) - Ngày 10/10 (Âm lịch)
    ◦Lễ hội đền Hồng Sơn (Tp Vinh) 20 tháng 08 âm lịch
    ◦Lễ hội đình Võ Liệt (Thanh Chương) tháng 1 - 2 âm lịch
    ◦Lễ hội đền Quả Sơn (Đô Lương 19-21 tháng giêng âm lich)
    ◦Lễ hội đền Bạch Mã (Thanh Liệt - Thanh Chương)
    ◦Lễ hội đền Nguyễn Xí (Nghi Lộc, 29-30 tháng 2 âm lịch)
    ◦Lễ hội rước Hến (Hưng Nguyên, 5-6 tháng hai âm lịch)
    ◦Lễ hội dòng họ Nguyễn Cảnh (Tràng Sơn - Đô Lương, 14-15 tháng 3 âm lịch)
    ◦Lễ hội dòng họ Hồ (Quỳnh Đôi-Quỳnh Lưu, 11-12 tháng 1 âm lịch)
    ◦Lễ hội Xăng khan (miền núi Nghệ An, 21-23 tháng 1 âm lịch)
    ◦Lễ hội làng Vạc (Nghĩa Đàn, 7-9 tháng 2 âm lịch)
    ◦Lễ hội Mai Hắc Đế (Nam Đàn, 13-15 tháng 1 âm lịch)

    Văn hoá


    ◦Dân ca Xứ Nghệ: hát đò đưa, ví dặm, hát phường vải, hát ru...
    ◦ Văn hoá ẩm thực: cháo lươn Vinh, tương Nam Đàn, cà pháo Nghi Lộc, nhút Thanh Chương, nước mắm Diễn Châu, cam Xã Đoài, khoai Thanh Chương.
    Làng nghề truyền thống

    Có 8 mô hình làng nghề: Làng nghề chế biến mộc dân dụng và mỹ nghệ, Làng mây tre đan, Làng dệt thổ cẩm, Làng đóng mới và sửa chữa tàu thuyền vỏ gỗ ở các huyện Nghĩa Đàn, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Con Cuông, Thanh Chương, Quế Phong.



    Những địa phương có nhiều làng nghề đăng ký xây dựng là: Diễn Châu (6 làng); Quỳnh Lưu (8); Nghi Lộc (6). Nghề SXKD được đăng ký nhiều là: Mây tre đan (20), Ché biến hải sản (5), Dệt thổ cẩm (5), Ươm tơ dệt lụa (5). Qua khảo sát đánh giá bước đầu, có 15 làng nghề đủ tiêu chí.

    Một số Làng nghề tiêu biểu như:

    ◦Làng đan nứa trúc Xuân Nha ở huyện Hưng Nguyên
    ◦Làng rèn Nho Lâm - Diễn Châu
    ◦Làng đục - chạm trổ đá ở Diễn Bình - Diễn Châu
    ◦Làng nồi đất - Trù Sơn - Đô Lương
    ◦Làng nghề Mây tre đan - Nghi Lộc
    Ngoài ra, trên địa bàn Nghệ An đang tồn tại một số nghề và làng nghề ở dạng tiềm năng (trong lịch sử đã có thời kỳ nổi bật, nhưng hiện nay dang bị mai một).
     
    Last edited by a moderator: 30/3/10
  4. nguyenthiyen

    nguyenthiyen New Member

    Tham gia ngày:
    3/4/10
    Bài viết:
    8
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Nghệ An bây giờ là một tỉnh có diện tích rộng nhất nước mình còn gì. Ở Nghệ An còn có món đặc sản nào ngoài bánh cudo bà con nhỉ?
     
  5. TEDU

    TEDU Connecting HR Community

    Tham gia ngày:
    3/4/08
    Bài viết:
    866
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Giới tính:
    Nữ
    Hôm rồi mình có vào Nghệ An - Hã Tĩnh và đi lễ 2 đền Ông Hoàng Mười ở cả cả phía Nghệ An và Hà Tĩnh, tất nhiên là không quên mang bánh Cuđơ về làm quà cho bạn bè.
     
  6. HRvnplus

    HRvnplus New Member

    Tham gia ngày:
    21/2/09
    Bài viết:
    276
    Đã được thích:
    1
    Điểm thành tích:
    0
    Nơi ở:
    HCMC
    Kẹo lạc Cu-đơ chứ không phải bánh cudo đâu. Cu-đơ là đặc sản của Hà Tĩnh mà.


    Đặc sản Nghệ An là Cháo Lươn - Ngon tuyệt cú mèo nhé.
     
  7. vancongulsa

    vancongulsa Thành viên BQT Hà Nội

    Tham gia ngày:
    22/9/09
    Bài viết:
    962
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nam
    Đúng rồi, nghệ an có món đặc sản là CHÁO LƯƠN - đảm bảo ai ăn cũng phải tấm tắc khen ngợi. Ngoài ra, Nghệ an còn có món CAM VINH BÁNH ĐA ( mà người dân trong đó thường gọi là BÁNH KHÔ) nữa đó.
     
    Last edited by a moderator: 29/4/10
  8. velvetyrose

    velvetyrose Member

    Tham gia ngày:
    2/2/10
    Bài viết:
    122
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nữ
    Nơi ở:
    Hà Nội
    mình mới đc thưởng thức cam vinh thui.


    Khi nào có dịp vào NA nhất định sẽ phải ăn món cháo lươn và bánh khô mà bạn vancong giới thiệu.
     
  9. vancongulsa

    vancongulsa Thành viên BQT Hà Nội

    Tham gia ngày:
    22/9/09
    Bài viết:
    962
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nam
    Mình quên nói là BÁNH KHÔ phải ăn kèm với tương ớt bạn nhé. Vừa có mùi thơm của vừng vừa có vị nồng mặn cay cay của tương ớt. Rất tuyệt
     

Chia sẻ trang này

Share